TS. Thomas Parsons
Viện Khoa học Sức khỏe
Giáo sư
Giới thiệu
Thomas Parsons có sự nghiệp học thuật liên ngành, tập trung vào nghiên cứu biến dị di truyền, được ứng dụng cho nhiều chủ đề nền tảng trong sinh học tiến hóa cũng như các ứng dụng thực tiễn mang ý nghĩa xã hội. Ông tốt nghiệp cử nhân ngành Vật lý tại Đại học Chicago. Năm 1989, ông nhận bằng Tiến sĩ Hóa sinh tại Đại học Washington, Seattle, nơi ông đã phát hiện và mô tả đặc điểm cụ thể các họ gen ở thực vật có khả năng kích hoạt phiên mã để phản ứng lại sự tấn công của côn trùng. Ngoài ra, trong công trình tiến sĩ của mình, ông là người đầu tiên chứng minh việc kỹ thuật di truyền thành công trên một loài cây gỗ cứng.
Xuất phát từ tình yêu thiên nhiên và môi trường hoang dã, ông chuyển hướng từ nghiên cứu ở cấp độ tế bào sang cấp độ sinh vật trong thời gian làm nghiên cứu sau tiến sĩ kéo dài tại Phòng thí nghiệm Hệ thống học Phân tử mới thành lập của Viện Smithsonian. Làm việc cùng các cố vấn và đồng nghiệp tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Smithsonian, Parsons tham gia nhiều nghiên cứu về phát sinh loài, di truyền học quần thể và DNA cổ đại. Trong 3 năm, ông đã tham gia một loạt các chuyến thám hiểm khảo sát sinh học tại các đảo ven bờ và rừng mưa nhiệt đới đất liền trên bờ biển Caribbean của Panama. Các chuyến thám hiểm “Bocas del Toro” này đã xác nhận khu vực là một vùng có giá trị địa sinh học đặc biệt và tốc độ tiến hóa nhanh, do đây là nơi các khối lục địa Bắc và Nam Mỹ nhiều lần gặp gỡ và tách rời trong các chu kỳ băng hà Pleistocen. Hàng nghìn mẫu mô chim do ông thu thập trong các chuyến đi này đã góp phần xây dựng ngân hàng mẫu sinh học của Smithsonian, tạo nền tảng cho hàng thập kỷ nghiên cứu tiếp theo của nhiều nhà khoa học về hệ thống địa sinh học này. Từ các mẫu đó, Parsons đã phát hiện và mô tả một vùng lai giữa hai loài chim có tập tính giao phối theo bầy (lek mating), cho thấy chọn lọc giới tính đã thúc đẩy một đặc điểm bộ lông của con đực vượt qua ranh giới loài. Đây là một trong số ít trường hợp hiếm hoi mà cơ chế chọn lọc cho dòng gen giữa các loài được làm sáng tỏ; các nghiên cứu gần đây trong kỷ nguyên hệ gen học đã xác định các vùng gen then chốt chịu tác động của chọn lọc giới tính. Hiện tại, Parsons vẫn là Nghiên cứu viên của Viện Smithsonian và tiếp tục tham gia tích cực vào các hợp tác nghiên cứu nhằm tìm hiểu tác động của sự phân mảnh sinh cảnh do biến đổi khí hậu đối với việc bảo tồn và suy giảm đa dạng sinh học.
Dựa trên các nghiên cứu nền tảng về ADN cổ và di truyền quần thể ADN ty thể (mtDNA), TS. Parsons được Phòng thí nghiệm Nhận dạng ADN của Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ (AFDIL) mời tham gia phát triển hệ thống nhận dạng ADN cho hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam. Từ năm 1994 đến 2006, ông giữ vai trò nhà khoa học nghiên cứu chính tại AFDIL, phối hợp cùng Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) và các phòng thí nghiệm học thuật để xây dựng phương pháp và tiêu chuẩn nhận dạng ADN đối với hài cốt người bị phân hủy. Các phương pháp này đã liên tục được cải tiến và được ứng dụng rộng rãi trong điều tra hình sự và nhận dạng người mất tích trên toàn thế giới. Ban đầu tập trung vào mtDNA di truyền theo mẹ, các nghiên cứu của Parsons về cải tiến tách chiết ADN cổ đã mở đường cho việc ứng dụng ADN hạt nhân, cho phép nhận dạng cá thể duy nhất trong những trường hợp trước đây được xem là không thể giải quyết. Trong thời gian công tác tại AFDIL, TS. Parsons tham gia nhiều ủy ban, ban biên tập và hội đồng cố vấn nhằm thúc đẩy lĩnh vực ADN pháp y. Trong hai năm sau sự kiện 11/9, ông được mời tham gia hội đồng chuyên gia của Viện Tư pháp Quốc gia Hoa Kỳ, hỗ trợ phát triển phương pháp và diễn giải dữ liệu trong công tác nhận dạng ADN các nạn nhân của vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới.
Năm 2006, Thomas Parsons gia nhập Ủy ban Quốc tế về Người Mất tích (ICMP) với vai trò Giám đốc Khoa học và Công nghệ. Trong suốt 15 năm đảm nhiệm vai trò này, ông đã lãnh đạo một nhóm đa ngành gồm các nhà khảo cổ học pháp y, nhà nhân chủng học, nhà tin học và nhà khoa học ADN để thiết lập một hệ thống phục hồi và nhận dạng năng suất cao dựa trên ADN, giúp xác định thành công danh tính hơn 20.000 người mất tích trên toàn thế giới. Hệ thống này ban đầu được áp dụng trong việc khai quật các mộ chôn tập thể, giám định nhân chủng học và nhận dạng ADN tại khu vực Nam Tư cũ, với hàng nghìn trường hợp, bao gồm việc xác định danh tính khoảng 7.000 trong số 8.000 nạn nhân của vụ thảm sát Srebrenica năm 1995. Sau đó, các phương pháp này được áp dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau như nhận dạng nạn nhân thảm họa quy mô lớn, đồng thời ICMP triển khai các chương trình xây dựng năng lực chuyên sâu tại hàng chục quốc gia, với các chương trình lớn tại Iraq, Colombia và Việt Nam. Parsons đã dẫn dắt việc cung cấp bằng chứng pháp y và lời khai nhân chứng chuyên gia trong 6 vụ truy tố lớn tại Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ (ICTY), góp phần vào việc kết án tù chung thân đối với các lãnh đạo chính trị và quân sự cấp cao về tội diệt chủng và các tội ác chiến tranh khác. Năm 2017, ông được trao Giải thưởng Khoa học Hai năm một lần của Hiệp hội Di truyền Pháp y Quốc tế cho những đóng góp trong phát triển kỹ thuật và các ứng dụng nhân đạo.
Trong hai năm gần đây, Thomas Parsons tham gia hỗ trợ phát triển các chương trình nhận dạng quy mô lớn đối với hài cốt các liệt sĩ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, trong đó khoảng 300.000 hài cốt đã được tìm thấy nhưng chưa xác định được danh tính, và khoảng 180.000 trường hợp vẫn chưa được tìm thấy. Bối cảnh Việt Nam đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng do ADN bị phân hủy mạnh và yêu cầu so sánh di truyền với thân nhân xa của người mất tích. ICMP đã phát triển các phương pháp giải trình tự DNA thế hệ mới, đã được chứng minh hiệu quả trên các mẫu vật của Việt Nam và đã hợp tác với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong một dự án xây dựng năng lực để triển khai các phương pháp này, hướng tới việc sử dụng rộng rãi tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, TS. Parsons còn đang thực hiện nhiều dự án liên quan đến đa dạng sinh học, hệ gen học bảo tồn, ADN môi trường và pháp y động vật hoang dã. Ông là thành viên liên kết của Field Projects International, tổ chức đã phát triển các phòng thí nghiệm giải trình tự ADN di động có thể triển khai tại thực địa, cho phép giải quyết các câu hỏi nghiên cứu bảo tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học ngay tại các điểm nóng về đa dạng sinh học, nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các nhà nghiên cứu. Ông cũng là thành viên hội đồng cố vấn của Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam, đơn vị tham gia nhiều dự án mà dữ liệu di truyền đóng vai trò quan trọng cho sự thành công. Tại VinUni, TS. Parsons hướng đến việc phát triển các nguồn tài nguyên di truyền này để hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn, thúc đẩy hợp tác quốc tế và ghi nhận sự phong phú, độc đáo cũng như giá trị ứng dụng của di sản thiên nhiên Việt Nam.
• Biến dị di truyền ở người
• Hệ gen học
• Di truyền học bảo tồn
• Đa dạng sinh học
• Pháp y động vật hoang dã
• ADN môi trường
• Tiến hóa phân tử
• Di truyền quần thể
• ADN pháp y
• Người mất tích
• Chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững
• Tin sinh học
• Hệ gen học
• Bảo tồn
• Pháp y
• Ứng dụng thực tiễn của công nghệ ADN
- J. Ruiz-Ramírez, F. Bittner, T.J. Parsons, A. Tillmar, L. Vangeel, G. I, M. Eduardoff, M.A.Peck, A. Ambroa-Conde, A. Mosquera-Miguel, A. Freire-Aradas, M.V. Lareu, C. Phillips, M. de la Puente (2025). Inter-platform evaluation of the MPSplex large-scale tri-allelic SNP panel for forensic identification. FSI:Genetics doi.org/10.1016/fsigen.2025.103233.
- H.C. Lim, K.P. Bennett, N.M. Justyn, M.J. Powers, K.M. Long, S.E. Kingston, W.R. Lindsay, J.B. Pease, M.J. Fuxjager, P.E. Bolton, C.N. Balakrishnan, L.B. Day, T.J. Parsons, J.D. Brawn, G.E. Hill, M.J. Braun. (2024). Sequential introgression of a carotenoid processing gene underlies sexual ornament diversity in a genus of manakins. Science Advances 10, eadn8339.
- C. Cavagnino, G. Runfeldt, M. Sager, R. Estes, A. Tillmar, E. M. Greytak, J. Tyler Thomas, E. Anderson, J. Daniels-Higginbotham, K. Kjelland, K. Sturk-Andreaggi, T. J. Parsons, T. P. McMahon, C. Marshall. (2024). Unearthing who and Y at Harewood Cemetery and inference of George Washington’s Y-chromosomal haplotype. iScience (27) 4 10935.
- J. H. de Vries, D. Kling, A. Vidaki, P. Arp, V. Kalamara, M.M.P.J. Verbiest, D. Piniewska-Rog, T. J. Parsons, A. G. Uitterlinden, M. Kayser. (2022). Impact of SNP microarray analysis of compromised DNA on kinship classification success in the context of investigative genetic genealogy. FSI:Genetics 56:10625.
- Barnert, E., KaT.Sanis, S. H., Mishori, R., Wagner, J. K., Selden, R. F., Madden, D., Berger, D., Erlich, H., Hampton, K., Kleiser, A., la Vaccara, A., Parsons, T. J., Peccerelli, F. A., Piñero, M. H., Stebbins, M. J., Vásquez, P., Warf, C. W., White, T. J., Stover, E., & Veronica Svetaz, M. (2021). Using DNA to reunify separated migrant families. In Science (Vol. 372, Issue 6547, pp. 1154–1156). American Association for the Advancement of Science. https://doi.org/10.1126/science.abh3979
- C. Phillips, J. Amigo, A.O. Tillmar, M. de la Puente, J. Ruiz Ramirez, M.A. Peck, F. Bittner, T.J. Parsons, M.V. Lareu. (2019). A compilation of tri-allelic SNPs from 1000 Genomes data and adoption of the most polymorphic loci into a large-scale human identification panel for massively parallel sequencing. FSI:Genetics 46:102232.
- T.J. Parsons, R. Huel, Z. Bajunović and A. Rizvić. (2019). Large scale DNA identification: The ICMP experience. FSI:Genetics 38:236-244.
- E. Zavala, S. Rajagopal, G Perry, I. Kruzic, Ž. Bašić, T.J. Parsons and M. Holland. (2019). Impact of DNA degradation on massively parallel sequencing-based autosomal STR, iiSNP, and mitochondrial DNA typing systems. FSI:Genetics in press. https://doi.org/10.1007/s00414-019-02110-4.
- Röck A, Irwin J, Dür A, Parsons T, Parson W. (2011). “ SAM: String-based sequence search algorithm for mitochondrial DNA database queries.” FSI:Genetics 5:126-132.
- Jodi A. Irwin, Jessica L. Saunier, Katharine M. Strouss, Kimberly S. Sturk, Toni M. Diegoli, Anita Brandstätter, Walther Parson, Thomas J. Parsons. (2009). “Investigation of point heteroplasmy in the mitochondrial DNA control region: a synthesis of oB.Servations from over 5000 global population samples.” J. Molecular Evol. 68:516-527.
- Jodi A. Irwin, Jessica L. Saunier, Katherine M. Strouss, Toni M. Diegoli, Kimberly A. Sturk, Jennifer E. O’Callaghan, Carla D. Paintner, Carsten Hohoff, Bernd Brinkmann and Thomas J. Parsons. (2008). “Mitochondrial control region sequences from a Vietnamese population sample.” Int. J. Legal Med 122:195-204
- Leslie G. Biesecker, Joan Bailey-Wilson, Jack Ballantyne, Howard Baum, Frederick R. Bieber, Charles Brenner, Bruce Budowle, John M. Butler, George Carmody, P. Michael Conneally, Barry Duceman, Arthur Eisenberg, Lisa Forman, Kenneth K. Kidd, Benoît LeClair, Steven Niezgoda, Thomas J. Parsons, Elizabeth Pugh, Robert Shaler, Stephen T. Sherry, Amanda Sozer, Anne Walsh. (2005). “DNA Identification of Victims from the September 11, 2001 World Trade Center Attack: Scientific Challenges and Policy Implications”” Science 310:1122-1123.
- Parsons, T. J. and Irwin, J.A. (2000). Questioning Evidence for Recombination in Human Mitochondrial DNA. Science. 288: 1931.
- Parsons, T. J., Muniec, D. M., Sullivan, K., Woodyatt, N., Alliston-Greiner, R., Wilson, M., Berry, D. L., Holland, K. A., Weedn, V. W., Gill, P., & Holland, M. M. (1997). A high oB.Served suB.Stitution rate in the human mitochondrial DNA control region. Nature Genetics 15: 363-368.
- Ivanov, P. L., Wadhams, M. J., Roby, R. K., Holland, M. M., Weedn, V. W., and T. J. Parsons (1996). Mitochondrial DNA sequence heteroplasmy in the Grand Duke of Russia Georgji Romanov establishes the authenticity of the remains of T.Sar Nicholas II. Nature Genetics 12: 417-420.
- Parsons, T. J., Olson S. L., and M. J. Braun (1994). Hybrid zones and sexual selection. Science 265: 122-123.
- Parsons, T. J., Olson S. L., and M. J. Braun (1993). Unidirectional spread of secondary sexual plumage traiT.S across an avian hybrid zone. Science 260: 1643-1646.
- Parsons, T. J., Bradshaw H.D. and Gordon, M.P. (1989). Systemic Accumulation of Specific mRNAs in Response to Wounding in Poplar Trees. Proceedings of the National Academy of Sciences USA 86: 7895-7899.
- Parsons, T. J., Sinkar, V.P., Stettler, R.F., Nester, E.W. and Gordon, M.P. (1986). Transformation of Poplar by Agrobacterium tumefaciens. Bio/Technology 4: 533-536.
• 1989: Tiến sĩ Hóa sinh, Đại học Washington
• 1983: Cử nhân Vật lý, Đại học Chicago”
• 2015: Giải thưởng Khoa học Hai năm một lần của Hiệp hội Di truyền Pháp y Quốc tế “Vì những đóng góp liên quan đến phân tích ADN ty thể người và việc nhận dạng nạn nhân chiến tranh và thảm họa.” http://www.isfg.org/About/Scientific+Prize
• 2006: Hiệp hội Di truyền Pháp y Quốc tế: Giải thưởng Đặc biệt cho “Các ứng dụng khoa học mang tính nhân đạo.”
• 2005: Nghiên cứu sinh tiến sĩ của GS. Parson – Michael Coble, đã nhận Giải thưởng Ralph Hill Brinton năm 2005 cho công trình thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Parson. Đây là giải thưởng thường niên của Viện Giải phẫu Bệnh Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ dành cho công trình có ý nghĩa nhất do một nhà nghiên cứu trẻ công bố.
• 2002: Một trong 10 ứng viên chung kết cho Giải thưởng Frank Brown Berry trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe liên bang Hoa Kỳ.