VinUni Banner

Hóa giải nghịch lý ‘nhập siêu’ tri thức và khát vọng định vị đại học Việt

16/07/2026

Không có đường tắt cho thăng hạng, vị thế thực sự của nền giáo dục đại học quốc gia chỉ có thể được kiến tạo bằng nội lực bền bỉ và sự hợp lực chiến lược. Đó là quan điểm tạo được sự đồng thuận cao trong hội thảo “Từ dữ liệu đến vị thế toàn cầu: Nghiên cứu, Phát triển bền vững và Sự hiện diện của Đại học Việt Nam trên bản đồ thế giới” diễn ra ngày 15.7 tại Hà Nội. Hội thảo do Times Higher Education (THE) và Trường đại học VinUni phổi hợp tổ chức.

Khoảng trống “nhập siêu” tri thức

Tại hội thảo, bà Phạm Thanh Hảo, Phó hiệu trưởng Trường đại học VinUni chia sẻ những trăn trở trước thực trạng mất cân đối nghiêm trọng cán cân xuất – nhập khẩu giáo dục của Việt Nam. Tình trạng “nhập siêu tri thức” (Net importer) cực kỳ nặng nề. Dữ liệu OECD và các tổ chức giáo dục quốc tế ước tính tỷ lệ thâm hụt du học sinh của Việt Nam đang nằm ở mức 11:1. Nghĩa là khoảng 250.000 học sinh, sinh viên đang theo học ở nước ngoài, trong khi tổng số sinh viên quốc tế đến Việt Nam học tập chỉ khoảng 20.000 người.

Trong khi nước láng giềng Malaysia đang sở hữu mức “xuất siêu tri thức” lên tới 2,5:1. Họ có khoảng 55.000 du học sinh ra nước ngoài, nhưng lại thu hút được 130.000 sinh viên quốc tế đến học tập, mang lại nguồn doanh thu lên đến 1,8 tỷ USD mỗi năm. Khoảng cách đó giữa chúng ta và bạn bắt nguồn từ khoảng cách rất lớn về năng lực thu hút nhân tài toàn cầu.

Bà Phạm Thanh Hảo, Phó hiệu trưởng Trường ĐH VinUni với bài tham luận “Từ quốc tế hóa tới vị thế toàn cầu”.

Cũng theo bà Hảo, dữ liệu của THE cho thấy tỷ lệ giảng viên quốc tế trung bình của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín chỉ đạt mức khiêm tốn là 1,3%, tỷ lệ sinh viên quốc tế là 0,5%. Trong khi đó, các con số này ở Malaysia lần lượt là 16,6% và 22,9%; ở Indonesia là 8,4% và 2,1%; ở Thái Lan là 4,4% và 1,9%. Ngay cả các trường đại học công lập top đầu của Việt Nam hiện nay như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội hay Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ sinh viên quốc tế ghi nhận trên bảng dữ liệu xếp hạng gần như vẫn bằng 0%.

Khoảng trống quá lớn này là rào cản ngăn bước các trường đại học trong nước nâng cao chỉ số “tầm nhìn quốc tế” vốn có trọng số 7,5% trong bảng xếp hạng THE World University Rankings.

Khát vọng và cạm bẫy

Khát vọng vươn tầm và định vị thương hiệu giáo dục đại học quốc gia chính là niềm hy vọng cho công cuộc lấp đầy khoảng trống thâm hụt tri thức mà bà bà Hảo chia sẻ ở trên. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT, (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt mục tiêu rõ ràng: đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học lọt vào top 100 thế giới ở một số lĩnh vực và ít nhất 8 cơ sở thuộc nhóm 200 châu Á, đồng thời thu hút tối thiểu 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài về làm việc.

Bà Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT phát biểu định hướng về nâng cao vị thế thực chất của giáo dục đại học Việt Nam trên thế giới

Tuy nhiên, bà Thủy khẳng định tư duy quản trị nhất quán của Bộ GD-ĐT: xếp hạng đại học không phải là mục tiêu tự thân; các trường không phát triển giáo dục chỉ để chạy đua giành giật vị trí cơ học trên các bảng xếp hạng. “Các bảng xếp hạng uy tín, khi được tiếp cận đúng, là công cụ tham chiếu quan trọng giúp các trường nhận diện rõ hơn điểm mạnh, khoảng trống và khoảng cách của mình so với các chuẩn mực khu vực và quốc tế”, bà Thủy nói.

PGS Nghiêm Xuân Huy, Viện trưởng Viện Đào tạo số và Khảo thí (Đại học Quốc gia Hà Nội), người đã có gần một thập kỷ trực tiếp điều phối công tác xếp hạng đại học, đã đưa ra những phân tích đầy tính “thực chiến”. Ông Huy thẳng thắn cảnh báo về những hệ lụy sâu sắc từ “trò chơi xếp hạng” gây nhiều băn khoăn trong giới giáo dục đại học. Các biểu hiện của “gaming” rất đa dạng và tinh vi. Ông Huy nhấn mạnh: “Các shortcut (đường tắt) có thể giúp nâng thứ hạng của trường rất nhanh và ngoạn mục, nhưng nó sẽ không bao giờ ở lại lâu dài. Chỉ có đi lên bằng chất lượng thực sự mới tạo ra sự phát triển bền vững”.

Bà Mei Mei Lim, Chủ tịch khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC) của tổ chức xếp hạng Times Higher Education (THE) phát biểu khai mạc chương trình.

Bà Mei Mei Lim, Chủ tịch THE khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tiết lộ THE đã cập nhật phương pháp luận, bổ sung 3 chỉ số mới và thiết lập các hàng rào kỹ thuật khắt khe, cùng nhiều thước đo rủi ro để phát hiện và ngăn chặn tình trạng tự trích dẫn quá mức nhằm trục lợi xếp hạng. Sự can thiệp này nhằm đảm bảo hệ thống chỉ phản ánh đúng giá trị của tính liêm chính học thuật và chất lượng nghiên cứu thực chất.

Thiết kết tư duy chiến lược và dũng khí “đánh đổi”

Theo các chuyên gia và các nhà quản lý, để hiện thực hóa khát vọng thăng hạng thực chất và quốc tế hóa cốt lõi, năng lực ra quyết định chiến lược của những nhà lãnh đạo đóng vai trò then chốt. TS Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học VinUni, đã đặt ra ba câu hỏi căn bản với các nhà quản trị giáo dục. Trong đó, câu hỏi về lộ trình đòi hỏi một sự dũng cảm và kiên định cực kỳ lớn. Bà Lan cho rằng trong quản trị nguồn lực hữu hạn, quyết định ưu tiên luôn đi kèm với những sự đánh đổi khắt khe về định biên, ngân sách và thời gian. “Nếu một nhà lãnh đạo muốn ưu tiên mọi việc, coi việc nào cũng khẩn cấp, thì trên thực tế sẽ không có bất kỳ một việc nào là ưu tiên cả”, bà Lan nói.

TS. Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH VinUni phát biểu đề dẫn tại chương trình hội thảo.

Chẳng hạn như VinUni, nhà trường đã chấp nhận một sự đánh đổi lớn khi kiên định lựa chọn mô hình tinh gọn và chọn lọc: tuyệt đối không tăng trưởng thêm các chương trình đào tạo cử nhân, kiểm soát chặt chẽ quy mô dưới 3.500 sinh viên, dồn toàn bộ nguồn lực tài chính đắt đỏ để thu hút đội ngũ giảng viên tinh hoa toàn cầu và nâng tỷ lệ học viên sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) lên đến 40%.

Đánh đổi lại trải nghiệm học tập đỉnh cao theo chuẩn quốc tế và tỷ lệ giảng viên nước ngoài đạt 40% là chi phí đào tạo cực kỳ lớn và số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm rất hạn chế (chỉ khoảng 500 sinh viên). VinUni cũng phải chấp nhận những thách thức phát sinh khi đa dạng hóa văn hóa (như thiết lập bếp ăn Halal riêng, phòng cầu nguyện đa tôn giáo, gia tăng nỗ lực truyền thông nội bộ gấp nhiều lần…).

Công thức vươn tầm: Nội lực – trợ lực – hợp lực

Nhưng làm thế nào để hóa giải nghịch lý “nhập siêu tri thức” của cả một quốc gia khi nguồn lực của mỗi trường đều hữu hạn? Theo bà Lê Mai Lan, để tạo ra sự bứt phá ở quy mô quốc gia thì hệ thống phải được đặt trong một hệ sinh thái dẫn dắt mang tính hợp lực. Bà Lan nói: “Nội lực là nền tảng, trợ lực giúp chúng ta tăng tốc, và hợp lực thì sẽ tạo nên vị thế của quốc gia”.

Minh chứng sinh động cho triết lý “hợp lực” này là câu chuyện của Chủ tịch VinUni kể về “liên minh nghiên cứu sạc xe điện”. Thay vì hoạt động riêng lẻ, Trường đại học VinUni, Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Singapore (NUS) đã cùng bắt tay thành lập liên minh nghiên cứu giải quyết bài toán tối ưu hóa chi phí và năng lượng trạm sạc xe điện với tổng vốn đầu tư khoảng 250.000 USD.

Đại diện Lãnh đạo Bộ GD&ĐT, Tổ chức xếp hạng Times Higher Education, Trường Đại học VinUni và các trường Đại học Việt Nam tại Hội thảo“Từ dữ liệu đến vị thế: Nghiên cứu, phát triển bền vững và sự hiện diện toàn cầu của đại học Việt Nam”

Sự thành công của dự án nằm ở sự tích hợp hoàn hảo các thế mạnh bổ khuyết cho nhau: NUS đóng góp hệ thống lab hiện đại và chuyên gia đỉnh cao (trong đó có giáo sư đạt giải Nobel); Bách khoa Hà Nội đóng góp đội ngũ giảng viên cực kỳ thực chiến; còn VinUni đóng góp hệ thống lab cùng nguồn cơ sở dữ liệu thực tế vô cùng đắt giá từ VinFast, V-Green và Vingroup.

Kết quả của liên minh không chỉ dừng lại ở các bài báo quốc tế uy tín mà còn khai sinh ra spin-off Voltera, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ đang thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư mạo hiểm.

Hội thảo “Từ dữ liệu đến vị thế: Nghiên cứu, phát triển bền vững và sự hiện diện toàn cầu của đại học Việt Nam” do VinUni và Times Higher Education phối hợp tổ chức.

Bà Lan khẳng định: “Sự hợp tác này không làm giảm đi lợi thế cạnh tranh của từng trường, mà ngược lại, nó nâng cao uy tín cho tất cả các thành viên tham gia. Khi một trường đại học Việt Nam đạt kết quả tốt, đó là thành tích chung và là tín hiệu tích cực nhất nâng tầm hình ảnh cho toàn bộ nền giáo dục đại học quốc gia”.

Triết lý này gặp được sự đồng điệu với bà MeiMei Lim khi trong phần phát biểu sau đó bà nhấn mạnh: “Nước lên thì mọi con thuyền cùng lên”. Bà Lim cho biết, kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển nhanh trong khu vực cho thấy, các trường đại học trong một quốc gia nhất thiết phải chủ động hợp tác với nhau thay vì cạnh tranh nội bộ một cách phân mảnh.

Banner footer